CỘNG ĐỒNG HỌ ĐOÀN VIỆT NAM

Trang thông tin điện tử của hội đồng Đoàn tộc Việt Nam

www.doantocvietnam.com - hoidongdoantocvietnam@gmail.com

Liên kết website

THÔNG TIN QUẢNG BÁ

THÔNG KÊ WEBSITE

  • Số lần click: 518732
  • Lượt truy cập: 432593

TÌM VỀ CỘI NGUỒN DÒNG HỌ

12:24 SA 19/07/2014

Mới đây bác Trần Thiên Nhiên ở Từ Liêm – Hà nội, có gửi thư cho Ban biên tập thông tin Đoàn tộc Việt Nam, nhờ đăng giúp thông tin nêu nguyện vọng tìm về cội nguồn dòng họ của một vị Thủ trưởng cũ. Chúng tôi xin được đăng toàn văn bài viết mà bác Nhiên đã gửi dưới đây. Mong mọi người ai biết được thông tin như bài viết đã nêu, xin lien hệ trực tiếp với tác giả (theo địa chỉ ghi trong bài viết) hoặc liên hệ với quản trị Website: doantocvietnam.com theo ĐT: 0988 383 609 (Mr: Văn An), Email:bva.truongchinh@gmail.com . Xin Chân thành cảm ơn.

Xin trân trong giới thiệu:

 Kính gửi Ban Biên tập.

Tôi có vị thủ trưởng cũ, nay tuổi gần 80, rất mong tìm được tung tích cụ tổ Đoàn Văn Nhu, sinh khoảng năm 1870. Cụ đã từng làm quan Quản kho của triều đình và bị truy nã (chưa rõ nguyên nhân).

Kính mong BBT giúp thủ trưởng cũ của tôi.

Tôi xin gửi BBT toàn bộ những điều thủ trưởng cũ của tôi viết ra. Đó là những lời đầy tâm huyết và thành kính về cụ Đoàn Văn Nhu.

Cám ơn BBT. Chúc BBT và dòng họ Đoàn Việt Nam mạnh khỏe, đoàn kết vững bền!

 Nếu có thông tin gì, xin liên hệ với tôi hoặc thủ trưởng cũ của tôi:

 Trần Thiên Nhiên.

Nam Từ Liêm. Hà Nội.

ĐT 0129.710.6892

 

CỤ TỔ DÒNG HỌ TÔI

 

Theo gia phả họ Nguyễn gốc Đoàn được chép lại và có bổ sung vào năm 2000: “Dòng họ ta mấy đời mang họ Nguyễn, song gốc không phải là Nguyễn mà là Đoàn. Ông thủy tổ của ta là ông Đoàn Văn Nhu”. Cụ Đoàn Văn Nhu là lính trạm (sông Vệ - Quảng Ngãi) rồi thăng làm Thừa trạm. Sau khi nhận chức Thừa trạm, ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Đỏi, một thời gian, ông được vời ra Huế làm quan Quản kho. Bao lâu sau, ông bỏ quan, bỏ chức vụ, trốn chạy thẳng về nhà và bị chính quyền đương thời truy nã. Nhờ bố vợ có uy quyền ở địa phương che chở (xóa bỏ họ Đoàn trong Bộ đinh) nên thoát nạn và từ đó, họ Đoàn chuyển thành họ Nguyễn, từ con rể trở thành con trai. Trong gia phả có ghi cụ người ở “tỉnh ngoài”. Không rõ tỉnh nào, nói tiếng Bắc, cũng không nói rõ cụ bỏ trốn vào thời gian nào và vì tội gì. Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng ta con cháu hậu thế chỉ còn cách suy đoán qua các trang sổ ít ỏi để lại. Sau đây là các suy đoán đó.

1. Suy đoán về thời gian và thời đại mà cụ Đoàn Văn Nhu sinh ra và lớn lên.

Trong gia phả nói trên, cụ Nguyễn Văn Khanh là cháu 4 đời của cụ Đoàn Văn Nhu, sinh vào năm 1840. Từ đó, có thể suy ra cụ Đoàn Văn Nhu sinh vào khoảng năm 1780 theo bảng sau.

Đời

Tên các cụ

Con thứ

Năm sinh

Triều vua

4

3

2

1

Nguyễn Văn Khanh

Nguyễn Văn Xong

Nguyễn Văn Đài

Đoàn Văn Nhu

Con đầu

Con thứ

Con đầu

Con đầu

1840

1823?

1803?

1780?

Minh Mạng 21 – 1840

Minh Mạng 1 – 1819

Gia Long 1 – 1802

Nguyễn - Tây Sơn

 

Theo bảng trên, cụ Đoàn Văn Nhu do hoàn cảnh công việc, lại do di chuyển từ Bắc vào Nam, nên có thể lấy vợ và sinh con muộn, khoảng tuổi 23. Cụ nguyễn Văn Đài sinh con là cụ Nguyễn Văn Xong, là con thứ 4, có thể ở tuổi 20. Cụ Nguyễn Văn Xong sinh con đầu lòng là cụ Nguyễn Văn Khanh, có thể ở tuổi 17 (vào thời đó người ta lấy vợ lấy chồng sớm).

Với số liệu trên, có thể sai số hàng số lẻ từ 1 - 10 chứ không thể hàng chục, từ 20 – 30 tuổi được.

Nếu như thế, cụ Đoàn Văn Nhu sống ở tuổi thanh niên vào thời gian giao thời giữa triều Tây Sơn và triều Nguyễn Ánh.

2. Suy đoán cụ Đoàn Văn Nhu theo phong trào Đoàn Trung - Đoàn Trực

Do không biết cụ Đoàn Văn Nhu sinh vào thời kỳ nào, nên trong dòng họ chúng tôi nhiều người liên hệ cụ họ Đoàn, làm việc ở Huế. phong trào này do thủ lĩnh họ Đoàn, cũng ở Huế, có thể có mối liên hệ với nhau.

Để kiểm tra suy đoán trên, tôi nhiều lần dự định đi Huế để tìm hiểu nhưng chưa thực hiện được. Vô tình vào ngày 16 - 4 - 2005, tôi đi trong đoàn “Hội cựu chiến binh Hà Nội” vào thăm lăng Tự Đức và được nghe giới thiệu về mối liên quan giữa phong trào nói trên với việc xây dựng lăng. Qua người hướng dẫn tham quan lăng, tôi tìm đến “Nhà Huế học” ông Phan Thuận An, ở 29 Nguyễn Chí Thanh, thành phố Huế (điện thoại 054.525.411). Ông tiếp tôi 15 phút như đã hẹn qua điện thoại trước đó.

Ông Phan Thuận An là nhà nghiên cứu nổi tiếng về lịch sử Huế.

Vua Tự Đức là người giỏi về văn thơ, song nhà vua không may mắn trong cuộc đời với 3 sự cố:

- Làm vua nhưng luôn cảm thấy người Pháp đè nén nhất là sau khi ký hiệp ước “Hòa bình và Hữu nghị” ngày 5 - 6 - 1862 với Pháp và Tây Ban Nha, gồm 12 điều. Tuy hiệp ước Hòa bình - Hữu nghị nhưng Pháp lấn lướt rất nhiều. Trong đó, buộc triều đình Huế phải giao 3 tỉnh: Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và Côn Đảo cho Pháp quản lý (theo Việt Nam, những sự kiện lịch sử 1858 - 1918, nhà xuất bản Giáo dục, 1999 ấn hành).

- Trong nước 10 năm mất mùa liên tiếp, lòng dân không yên, luôn nổi loạn nhiều nơi. Ngay ở Huế, để chống lại hiệp ước “Hòa bình và Hữu nghị” nói trên, Nguyễn Văn Viện, một người dân bình thường  quê ở Bình Định, cùng với các quan chức địa phương là Tôn Thất Thanh, Tôn Thất Thừa khởi xướng ngày 1 - 8 - 1864 (sách đã dẫn).

- Bản thân nhà vua có đến 102 bà vợ, nhưng không có con để nối dõi tông đường, coi đó là điều thất lễ với Tiên đế.

Vì thế, khi lên ngôi không lâu, Tự Đức đã nghĩ ngay đến cái chết và cho xây lăng. Tuy nhiên, lăng xây xong, 16 năm sau Tự Đức mới về nơi “cát bụi”, nơi mà ông đặt tên là “Vạn niên cát đại’.

Thời gian xây lăng dự kiến trong 6 năm, nhưng quần thần lấy lòng vua, ép phu phen xây trong 3 năm. Ngày nay, ta đã đến thăm lăng theo con đường nhựa phẳng lỳ, nhưng trước thời gian đó, đây là vùng rừng thiêng nước độc, người đi không mong ngày về. Trước nỗi thống khổ của phu phen và cũng là của bản thân, các ông Đoàn Trưng, Đoàn Trực, Đoàn Hữu Ái đã đứng lên nổi loạn, dẫn 3.000 phu phen về Huế để lật đổ Tự Đức. Vũ khí để chiến đấu chỉ là các cây chày giã vôi, nên còn gọi là “giặc chìa vôi”. Cuộc nổi loạn xảy ra vào khoảng tháng 9 năm 1866, đã thất bại (sách đã dẫn).

Với tâm trạng nói trên, lại bị phu phen nổi loạn chống đối, nên lăng Tự Đức không sơn son, thếp vàng và đặt tên lăng là “Vạn niên cát đại” hay “Khiêm cung” và các công trình trong lăng cũng kèm theo chữ “Khiêm” như Công Khiêm (ở ngoài), Cung Khiêm (cho quan lại), Lễ Khiêm (cho thợ thuyền), Trì Khiêm (biệt cung cho phi tần mỹ nữ)… Như vậy, lăng Tự Đức không những là nơi yên nghỉ ngàn thu của nhà vua, mà còn là nơi để vua làm việc, nghỉ ngơi và vui thú lúc còn sống. Đấy là một số đặc điểm khác biệt của lăng Tự Đức với các lăng khác.

Nhà Huế học giới thiệu với tôi bộ sách lịch sử do triều đình Huế soạn và được Viện Hán - Nôm Hà Nội dịch từ chữ Hán - Nôm ra chữ quốc ngữ, trong đó người ta ghi lại các sự kiện của triều đình, ghi tên các quan lại, cũng như các phần tử phản nghịch. Đến phần về cuộc nổi loạn của Đoàn Trưng, Đoàn Trực, tra trong sách không có tên cụ nhà chúng tôi là Đoàn Văn Nhu. Ông Phan Thuận An giải thích rằng, trong sách chỉ ghi các quan có chức sắc nào đó, cũng như các phần tử phản nghịch có vai trò nào đó mà thôi. Nếu muốn tìm hiểu kỹ, anh đến làng An Truyền hay còn gọi là làng Chuồn, thuộc huyện Phú Vang. Ông lấy bản đồ chỉ cho tôi xem, đó là vùng nằm ven phá Tam Giang, cách thành phố Huế khoảng 10 km về phía đông nơi tôi đã từng đến. Viết đến đây, tôi lại nhớ đến anh Năm Hanh (Nguyễn Văn Phúc) đã nhiều lần bảo tôi đi Huế và ghé qua làng An Truyền để tìm hiểu về phong trào Đoàn Trưng - Đoàn Trực, vì anh đinh ninh rằng, cụ nhà chúng tôi liên quan đến phong trào này. Tiếc rằng khi đã biết rõ về phong trào mà anh mong đợi, tôi định gọi điện về báo tin cho anh biết, nhưng lại chần chờ vì tôi cũng sắp về quê. Nhưng than ôi! Sau đó không lâu, anh đã “lên đường theo tổ tiên”, nên không đọc được những dòng mà tôi đã và sẽ viết ra ở đây.

Tôi đặt vấn đề với nhà Huế học, nhờ ông giúp tìm hiểu cụ Đoàn Văn Nhu nhà chúng tôi, sinh quán ở đâu, bị tội gì, vào thời gian nào mà phải bỏ xứ vào ở ẩn ở Quảng Ngãi? Ông Phan Thuận An hỏi tôi, nếu ông cụ nhà anh có các dấu tích sau đây, tôi sẽ giúp:

-         Chức sắc mà Nhà nước phong tặng;

-         Bia mộ của cụ;

-         Các di vật nào đó liên quan đến hoạt động của cụ;

Rõ ràng chúng tôi không có vật chứng nào nên đành kết thúc câu chuyện ở đây.

Tuy nhiên, cuộc nổi loạn Đoàn Trưng - Đoàn Trực vào năm 1866, trước lúc cụ Nguyễn Văn Khanh, cháu 4 đời của cụ Đoàn Văn Nhu lúc này đã 26 tuổi, thì chắc cụ Đoàn Văn Nhu đã “qui tiên” từ lâu rồi (hồi đó tuổi thọ thấp) hoặc nếu cụ còn sống, thì với bảng suy đoán ở trên, có thể sai số tối đa là 10 năm (tức ± 10 năm) thì tuổi cụ sẽ dao động từ 76 đến 96 tuổi. Vào thời đó, tuổi 70 là lớp “người xưa nay hiếm” thế mà cụ tối thiểu đã 76 tuổi rồi. Hơn nữa với trang tuổi này không phù hợp với ngữ cảnh mà quyển gia phả đã ghi là: “Bao lâu sau, ông cùng bà bỏ trốn, được bố vợ che chở”. Điều đó cho phép ta hiểu là chỉ mấy năm sau chứ không phải nhiều chục năm sau, ông bà còn trẻ lắm, bố vợ còn khỏe mạnh và minh mẫn. Thế thì làm gì cụ Đoàn Văn Nhu có thể liên quan đến phong trào này được.

3. Suy luận cụ Đoàn Văn Nhu tham gia phong trào Tây Sơn hoặc trong thời Gia Long và bị truy nã.

Như đã nói ở trên, có thể sai số tuổi cụ Đoàn Văn Nhu là 10 năm, tức cụ sinh vào khoảng từ năm 1770 đến 1790. Vào năm 1802 (năm Nguyễn Ánh lên ngôi), cụ đã có tuổi từ 12 đến 32, có thể trung bình trên dưới 20 tuổi đã trưởng thành. Vào thời điểm đó, là giao thời giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, Tây Sơn đang ở giai đoạn tan rã. Nguyễn Ánh đang xây dựng triều đình. Giả dụ cụ Đoàn Văn Nhu có phạm tội gì trong thời Tây Sơn và với tâm trạng hoang mang của một triều đình đang hấp hối, trong cơn hoảng loạn, mặc dù có đàn áp dã man kẻ phản nghịch, nhưng triều Tây Sơn trong hoàn cảnh đó, còn đâu đủ sức để đuổi bắt những kẻ đã cao chạy xa bay. Như quyển gia phả đã ghi: Cụ làm đến chức Quản kho (không rõ tương đương với chức gì hiện nay), ở địa phương đã có sổ “Bộ đinh” chứng tỏ triều đình đã đi vào thể ổn định và lại đóng đô ở Huế, thời đó, chắc phải là thời của Nguyễn Ánh. Và vì thế, triều Gia Long mới đủ thời gian và khí thế để truy nã kẻ đã chạy trốn.

Để làm sáng tỏ vấn đề này, tôi đã liên hệ với Viện Nghiên cứu Hán - Nôm, ở Phòng Nghiên cứu ứng dụng và đã được cô Nguyễn Kim Măng, số điện thoại nhà riêng 04.5598234 nhận truy tìm. Viện Nghiên cứu Hán - Nôm ở 183 Đặng Tiến Đông, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Dựa vào công trình nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu Hán - Nôm Việt Nam và Học viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, tại công trình “Di sản Hán - Nôm Việt Nam thư mục đồ yếu” do đồng chủ biên GS. Trần Nghĩa và GS. Franşois cùng nhiều người khác biên soạn. Qua tra cứu cả tháng trời (tháng 5 - 2005), cô Măng kết luận: “không có gia phả họ Đoàn nói về cụ Đoàn Văn Nhu”. Dù vậy cô Măng gợi ý nên tìm hiểu các tài liệu sau:

- Gia phả họ Đoàn, xã Vũ Lăng, tổng Bình Lăng, huyện Thượng Phú, tỉnh Hà Tây, viết năm 1897.

- Gia phả họ Đoàn của Đoàn Thị Điểm, không rõ năm và vân vân.

Tìm hiểu các tài liệu này phải có thời gian và sức khỏe, nhưng rõ ràng rất khó vì tôi đã ngoài 70, lại lắm bệnh.

Vì chưa thỏa mãn những điều đã thu được nói trên, tôi lại trở lại Viện nghiên cứu Hán - Nôm, tự mình vào thư viện để đọc các tài liệu có liên quan. Theo suy đoán như đã nói ở trên, chắc sự việc cụ Đoàn Văn Nhu xảy ra vào triều đại Gia Long - Nguyễn Ánh, nên tôi đọc quyển “Đại Nam thực lục chính biên - Đệ nhất kỷ” ký hiệu của thư viện là Vb.180 – Vb.462 do Nhà xuất bản Sử học Việt Nam ấn hành vào năm 1963. Tôi đã đọc từ trang 5 quyển XVI – tháng 1 – 1802 (thời gian Nguyễn Ánh lên ngôi) đến trang khoảng 380 quyển LIX ngày 1 – 6 – 1819 (ngày vua Gia Long băng hà). Trong khoảng 380 trang đó có ghi hàng ngàn tên các quan lại và kẻ tội đồ. Tôi thống kê sơ bộ được 20 cụ họ Đoàn, trong đó có vài cụ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như cụ Đoàn Văn Nguyên 4 lần, cụ Đoàn Phúc Tân 2 lần, còn lại 1 lần. Xem ra các cụ họ Đoàn tham gia quan trường là rất khiêm tốn.

Do ông nhà mình làm quan Quản kho, nên đoạn nào nói về kho tàng tôi tập trung xem kỹ hơn, như đoạn nói về chính sách phân phối gạo cho quan quân vào ngày 7 - 12 - 1803 ở trang 135, hay lệnh đúc tiền kẽm, tiền xu vào ngày 7 - 12 - 1812 ở trang 158. Ngoài ra tôi còn đọc thêm phần Tây Sơn, liền kề về thời gian với Gia Long ở quyển XI - năm 1799 đến quyển XV - năm 1801, từ trang 318 đến trang 459 và một số trang phần đầu Minh Mạng. Tuy nhiên, nỗi buồn mênh mông là không tìm ra dấu ấn ông tổ nhà chúng tôi - cụ Đoàn Văn Nhu. Hay là cụ đổi tên (?)

Với tôi, trong lòng luôn áy náy muốn làm sáng tỏ nguồn gốc, lai lịch của dòng họ mình, nhưng do thiếu chứng cứ, thiếu cơ sở và không đủ điều kiện thuận tiện (như đi lại, sức khỏe), đành chờ vào con cháu sau này.

Tóm lại, có thể khẳng định, cụ Đoàn Văn Nhu vào tuổi trưởng thành, trên dưới 20 tuổi, sống trong thời kỳ giao thời giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, là thời kỳ loạn lạc nhất trong lịch sử nước ta. Có thể cụ phạm tội gì đó trong thời Gia Long, thậm chí là thời kỳ đầu của triều đại Gia Long. Cụ quê quán ở đâu, từ “tỉnh phía ngoài” nào? Phạm tội gì? Việc các cụ ngày xưa không truyền lại tông tích cụ Đoàn Văn Nhu, cũng là một chứng cứ cho phép suy đoán rằng, cụ tổ nhà chúng tôi do triều Gia Long truy nã.

Tiện đây tôi cũng mong quí vị bạn đọc quan tâm, nếu trong gia phả dòng tộc của quí vị có cụ nào là Đoàn Văn Nhu hoặc có người mất tích có hoàn cảnh tương tự như thế thì có thể liên hệ với chúng tôi: Nguyễn Văn Hoai 84, Thái Thịnh, Hà Nội, điện thoại: 04.3857.2601; hoặc con gái tôi là Châu, điện thoại 0934.756.688. May ra chúng ta có thể là họ hàng của nhau.

Hà Nội, tháng  2 năm  2006

BBTTT Đoàn tộc Việt Nam


Các tin khác


HỘI ĐỒNG ĐOÀN TỘC VIỆT NAM
© Copyright 2012 doantocvietnam.com, All right reserved
Designed & Powered by rehangngay.vn