CỘNG ĐỒNG HỌ ĐOÀN VIỆT NAM

Trang thông tin điện tử của hội đồng Đoàn tộc Việt Nam

www.doantocvietnam.com - hoidongdoantocvietnam@gmail.com

Liên kết website

THÔNG TIN QUẢNG BÁ

THÔNG KÊ WEBSITE

  • Số lần click: 518658
  • Lượt truy cập: 432519

LƯỢC SỬ HỌ ĐOÀN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

09:17 SA 23/10/2012

Họ Đoàn là một trong hàng trăm dòng họ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, có cách đây hàng ngàn năm lịch sử.

   Trải qua các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê…tổ tiên họ Đoàn cũng như các thế hệ tiếp nối đã chuyển cư đến nhiều vùng của đất nước, đến nay có thể đã ngót 40 đời. Vì gia phả qua nhiều đời sao chép, do đó có sự mất mát đáng kể. Do vậy, việc xác định ai là cụ tổ đầu tiên của họ Đoàn đã định cư trên đất nước ta, vào thời đại nào, là vấn đề còn phải tiếp tục tìm hiểu. Tuy nhiên có một số người cho rằng: Người họ Đoàn đầu tiên được biết đến trong lịch sử (ĐVSKTT ghi) là Đoàn Chí (năm Tân Sửu, vua Quan-vũ sai Mã Viện làm Phục-ba tướng-quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan Lâu-thuyền tướng quân là Đoàn Chí sang đánh Trưng-vương). Nhưng chưa có một tư liệu nào chứng tỏ sau đó có người họ Đoàn ( di cư hoặc bản địa) vào thời kỳ này. Hoặc cho rằng họ Đoàn xuất phát từ nước Đại Lý tồn tại từ năm 937 cho đến năm 1253 (nay thuộc Vân Nam, Trung Quốc) hay từ vùng "Mười hai bản mường" (Xịp soỏng bản nà; nay thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc). Điều này hoàn toàn không có cơ sở, bởi theo thần phả đình làng An Mai (nay là thôn Thanh Mai, xã An thanh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) do tiến sỹ Nho học Nguyễn Viết Báo viết thì vào thời tiền Lý (544 - 602) đã có ông Đoàn Danh Tích về An Mai khai hoang, lập làng. Nghĩa là người họ Đoàn đã có mặt ở Việt Nam từ trước thời gian  tồn tại của nước Đại Lý.

    Gia phả họ Trần làng An Mai có ghi: Vào đời vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) khi cụ Tổ họ Trần về làng An Mai thì đã có người họ Đoàn sinh sống. Ở thôn An Bài, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có cụ Đoàn Quý Công, huý Đạo Cao, theo truyền lại là đã về đây vào thời Tiền Lý. Cụ có công tổ chức khai hoang lập làng Bệ (nay là thôn An Bài), được 12 họ khác của làng ghi công trong Gia phả. Tại An Bài có tượng và miếu thờ cụ Cao với sắc phong là: Lương y viện dược Thạch tổ lưu truyền tại miếu thuỵ, vì cụ là một thầy thuốc giỏi.

 Vào thời nhà Ngô (939 - 965) đã có cụ Đoàn Huy Lượng - tướng của Ngô Quyền - tham gia đánh giặc Nam Hán, hiện có đền thờ ở Nghi Đoan (Hải Phòng). Một số nguồn tin cho biết cụ Đoàn Văn Khâm, Thượng thư Bộ Công đời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1128) là đời thứ 4 của cụ Đoàn Huy Lượng.

    Theo phả họ Đoàn ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và ở thôn Tu Trình, xã Thuỵ Hồng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình (phần tiền biên) thì từ làng Lôi cáo (địa danh cổ, nay thuộc xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội) có người họ Đoàn chuyển cư về Tô Xuyên năm 1020, đời vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028). Tô Xuyên, nay thuộc xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đời sau có cụ Đoàn Văn Khâm chuyến đến.

    Nhiều tư liệu cho biết:cao tổ Đoàn Văn Khâm, sinh ra thời nhà Lý đang thịnh trị, quê chính của Người ở xã Cổ Dũng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Sau một trận lũ lụt lớn, gia đình phải di chuyển sang đất Thái Bình một thời gian, rồi lại chuyển về đất Hải Dương, nhưng Người và gia đình không về chốn cũ ở huyện Kim Thành mà về huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và định cư ở xã Đoàn Thượng ngày nay. Tại đây, cao tổ vốn là người ham học , Người dự khoa thi nho học đàu tiên của nước Việt Nam, triều Lý. Khoa thi này được gọi là khoa thi Minh Kinh Bác Học ở Văn Miếu Quốc Tử Giám. Cụ đỗ khoa đầu tiên (tương đương Tiến sỹ sau này).
Đoàn Văn Khâm là cư sĩ, danh thần đời Lý Cao Tông (李高宗; 1173 - 1210), có sách chép tên là Liễm.
Người làm quan đến Thượng thư bộ Công, mộ đạo Phật, hay giao du với khách thiền lâm, có ý muốn từ quan, thời thường quấn khăn vải, mặc áo nâu.
Ngoài ra, Người còn là một nhà thơ nổi tiếng đương thời. Tác phẩm của người phần lớn đã thất lạc chỉ còn lại một ít bài ( 3 bài), xin giới thiệu bài:

Ðoàn Văn Khâm viếng Thiền Sư Quảng Trí*

 Rừng sâu, đầu bạc lánh kinh thành,

Rũ áo về non thơm ngát danh.

Những ước sửa khăn hầu cửa Phật,

 Thoắt nghe tin báo, mộng hồn kinh.

Sân chùa chim tối kêu vầng nguyệt,

 Mộ tháp ai người viết bức minh?

 Ðạo hữu can chi buồn vĩnh biệt,

Chùa xưa, non nước hiện chân hình.

 

Thiền sư Quảng Trí họ Nhan. Năm đầu niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059) sư từ bỏ thế tục đến tham vấn Thiền Lão ở Tiên Du . Nhờ một câu nói của Thầy, sư nhận được yếu chỉ, từ đó dốc sức vào thiền học. Về sau sư trụ trì chùa Quán Ðỉnh núi Không Lộ, kết bạn với Tăng Minh Huệ, người đời cho là Hàn Sơn, Thập Ðắc tái thế . Công bộ thượng thư Ðoàn Văn Khâm làm bài thơ trên thương tiếc khi sư quy tịch (khoảng niên hiệu Quảng Hựu 1085-1091)

    Đời thứ 5 (tính từ cụ Đoàn Khâm), có danh nhân Đoàn Thượng, sinh ở xã Xuân Độ, nay là thôn Trung Độ, xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, là một vị tướng tài cao, chí lớn và đức độ vào cuối đời vua Lý Cao Tông (1176 - 1210). Lúc này cơ nghiệp nhà Lý đã suy đồi, nhà vua chơi bời vô độ, chính sự, hình pháp không rõ ràng, lại gặp nạn thiên tai mất mùa, đói kém liên miên, giặc cướp nổi lên khắp nơi, xu hướng cát cứ ngày một phát triển: Nguyễn Nộn tự xưng là Hoài Đạo vương chiếm cứ mạn Bắc, nhà Lý đã bị thế lực Trần Thủ Độ thao túng, mưu đồ thoán đạt. Thấy không thể bảo vệ, vực dậy một triều đình đã thối nát, Ngài về Hồng Châu (địa bàn này thuộc Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên ngày nay) tự xưng là Đông Hải Đại Vương, tập hợp lực lượng mong cứu dân, cứu nước và cũng để thực hiện hoài bão của mình. Trong thời gian 21 năm (1207 - 1228) quản lý đất Hồng Châu, Ngài đã có công lớn trong việc dẹp loạn, yên dân, tạo cho dân có cuộc sống no đủ, được nhân dân hết lòng ủng hộ. Trong một trận đánh không cân sức với quân Nguyễn Nộn và quân Trần Thủ Độ, Ngài tử trận. Tương truyền, sau khi mất, Ngài hiển Thánh. Vua Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã truy phong ngài là Đông Hải Vương, Thượng đẳng thần, truyền cho các địa phương tổ chức tế lễ hàng năm. Được biết đã có 72 địa phương thờ ngài là Thành Hoàng. Đó là một sự kiện ít thấy đối với một Danh nhân quân sự, chính trị trong các thời đại.

 Cần lưu ý rằng:

Từ năm 1211 trong nước Đại Việt đã hình thành ba thế lực phân cát lớn là:

• Họ Đoàn (Hải Dương và Hải Phòng).

• Họ Trần (Thái Bình, Nam Định và nam Hưng Yên).

• Họ Nguyễn (Quốc Oai, Hà Tây)

Họ Trần ở Thiên Trường, do hai anh em họ Trần là Trần Thừa và Trần Tự Khánh lãnh đạo (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, phía hữu ngạn sông Hồng).

Họ Đoàn ở Hồng lộ, do Đoàn Thượng và Đoàn Chủ cầm đầu (phía tả ngạn sông Hồng, gồm các quận Gia Lộc, Bình Giang, Thanh Miên và Ninh Giang tỉnh Hải Dương ngày nay).
Họ Nguyễn ở Bắc Giang, do Nguyễn Nậu và Nguyễn Nãi lãnh đạo ( phía bắc sông Đuống – tên cổ thời là sông Thiên Đức, gồm các quận Tiên Du, Từ Sơn, Quế Võ tỉnh Bắc Ninh ngày nay).
Triều đình nhà Lý chỉ kiểm soát vùng xung quanh Thăng Long. Trong quá trình nắm quyền bính trong triều cho tới khi thay ngôi nhà Lý, nhà Trần tiếp tục phải đối phó với các lực lượng cát cứ từ thời Lý.

Do thế lực chưa đủ mạnh để trấn áp tất cả các lực lượng nổi dậy, họ Trần phải dùng chiến thuật khi đánh khi hoà, thậm chí cả biện pháp hôn nhân; và tận dụng sự xung đột của chính các thế lực này tự làm yếu nhau.

Sau khi nhà Trần thành lập, Nguyễn Nộn đánh bại, giết chết Đoàn Thượng năm 1228. Nhưng không lâu sau, cuối năm 1229, Nguyễn Nộn ốm chết, lực lượng của Nộn tự tan rã. Nhà Trần chấm dứt được cục diện chia cắt, tập trung củng cố nội chính sau nhiều năm nghiêng ngả dưới thời Lý.

     Đoàn Thượng (1184-1228) là tướng nhà Lý và là một sứ quân chống lại triều đình cuối thời nhà Lý, đầu thời nhà Trần trong lịch sử Việt Nam

    Ông sinh ngày 10 tháng Giêng năm Giáp Thìn (1184) đời Lý Cao Tông. Theo ngọc phả ở Hải Dương, ông là con của Đoàn Trung và bà Hoàng Thị Mỹ. Sử sách thống nhất ghi ông người làng Thung Độ, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Việt Nam.

    Đoàn Thượng trở thành hào trưởng vùng Hồng Châu. Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, ông có cùng một vú nuôi với vua Lý Cao Tông. Ông lớn lên lúc nhà Lý đã suy vi. Vua Lý Cao Tông chơi bời vô độ, tăng cường bóc lột dân chúng, vì thế nhân dân oán thán, nhiều nơi nổi dậy chống lại. Nhân lúc lòng dân chán nhà Lý, Đoàn Thượng cũng nổi dậy tại quê nhà vùng Hồng.
Vùng Hồng, theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí nói về phủ Bình Giang và Ninh Giang: “Xưa gọi là Hồng châu, cuối đời Trần chia làm châu Thượng Hồng và châu Hạ Hồng...”. Vùng Hồng gồm các huyện Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Gia Lộc, Ninh Giang và Tứ Kỳ ở phía nam tỉnh Hải Dương ngày nay.

   Sử sách chép không thống nhất về thời gian Đoàn Thượng nổi lên. Các nhà nghiên cứu thống nhất lấy nguồn thông tin từ sách Đại Việt sử lược là sách được soạn vào thời nhà Trần là bộ sử cổ nhất làm căn cứ đáng tin cậy hơn cả.

    Tháng 3 năm 1207, Đoàn Thượng và Đoàn Chủ nổi dậy chống lại triều đình. Ông xây đắp thành, đắp lũy. Lý Cao Tông sai đem đại binh đi đánh. Đàm Dĩ Mông đem quân đạo Đại Thông (miền Hà Đông cũ dọc sông Đáy), Phạm Bỉnh Di đem quân đạo Khả Liễu, Trần Hinh đem quân đạo Phù Đái (Vĩnh Bảo, Hải Phòng), Bảo Trinh hầu đem quân đạo Nam Sách (Nam Sách, Hải Dương), cùng họp nhau đánh Đoàn Thượng. Thấy thế lực quân triều đình quá mạnh, Đoàn Thượng liền ngầm sai người đem của cải đút lót cho Thượng phẩm phụng ngự Phạm Du, nguyện xin đem quân chúng theo Du. Cuộc liên minh giữa Đoàn Thượng và Phạm Du bắt đầu từ đó. Phạm Du cố vì Thượng mà xin với Cao Tông tha cho ông.

    Đầu năm 1209, Cao Tông sai Phạm Du coi việc quân ở châu Nghệ An. Du làm trái lệnh chống triều đình. Cao Tông liền sai Phạm Bỉnh Di lấy quân ở Đằng Châu (thị xã Hưng Yên) để đánh Phạm Du. Du trở về Cổ Miệt (Hồng Châu) cùng với Đoàn Thượng, Đoàn Chủ ở hợp binh làm phản triều đình, đánh Đằng Châu. Bỉnh Di bị thua.

    Tháng 2 năm 1209, Bỉnh Di lại đem binh ở Đằng Châu, Khoái Châu đi đánh Du. Phạm Du thua trận bỏ trốn. Bỉnh Di tịch biên gia sản của Du rồi đốt hết.

  Tháng 3 năm 1209, Phạm Bỉnh Di đánh Đoàn Thượng và Đoàn Chủ tại Vệ Kiều. Quân Đoàn Thượng thua trận, Đoàn Chủ bị hãm ở chỗ bùn lầy và bị tướng Hà Văn Lôi đâm chết.
Tháng 4 năm 1209, Phạm Bỉnh Di lại đánh tan quân Đoàn Thượng. Tuy nhiên, trong lúc Đoàn Thượng suy yếu thì sự mê muội của vua Lý Cao Tông, tin theo gian thần Phạm Du khiến nhà Lý càng suy vi.

 

       Phạm Du ngầm sai người về kinh đút lót cho các quan lại trong triều, nói rằng Bỉnh Di tàn ác, giết hại người vô tội và kể lể tình oan, xin về kinh đợi tội. Cao Tông sai Trần Hinh triệu Phạm Du về kinh, lại triệu cả Bỉnh Di về triều. Phạm Du về kinh trước hầu Cao Tông, được vua tin theo; Bỉnh Di đến kinh sau, vào triều phụng mệnh. Cao Tông sai bắt Bỉnh Di và con là Phụ giết chết.

Tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc nghe tin đó, đem binh lính phá cửa Đại Thanh kéo vào nội điện để cứu chủ. Du cùng em là bọn Phạm Kinh giết Bỉnh Di và con Bỉnh Di là Phụ rồi cùng Cao Tông chạy trốn. Quách Bốc liền tôn hoàng tử nhỏ là Thầm lên làm vua. Cao Tông chạy về Tam Nông (Phú Thọ) nương nhờ nhà Hà Vạn, một thủ lĩnh miền thiểu số có thế lực.

    Thái tử Sảm cùng mẹ là nguyên phi Đàm Thị và hai em gái chạy về Hải Ấp, Thái Bình, được thủ lĩnh địa phương là Trần Lý và Tô Trung Từ lập làm vua, tôn xưng là Thắng Vương. Thấy con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung có nhan sắc, Lý Sảm bèn lấy làm vợ, nhân đó Trần Lý được phong làm Minh Tự, Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ.

    Biết tin thái tử Sảm lập triều đình riêng và tự ý phong tước cho Trần Lý, Tô Trung Từ,... nên vua Lý Cao Tông ở Quy Hoá muốn đánh dẹp, bèn sai Phạm Du đi để liên lạc với Đoàn Thượng. Nhưng Du lại ham sắc, tư thông với công chúa Thiên Cực, nên lỡ hẹn với ông. Khi thuyền của ông đến đón không gặp Du, bèn trở về. Khi Du lên thuyền khác đi gặp họ Đoàn, tới Ma Lãng thì bị quân của hào trưởng Bắc Giang là Nguyễn Nậu và Nguyễn Nải đón bắt và giết chết.

    Trần Lý và Tô Trung Từ bèn mang quân đánh về kinh thành dẹp Quách Bốc. Trần Lý tử trận, Tô Trung Từ đón vua Cao Tông về cung.

    Cao Tông chết, thái tử Sảm lên ngôi, tức là Lý Huệ Tông. Tô Trung Từ trở thành quyền thần trong triều. Sau một loạt biến cố, năm 1211, nhiều đại thần nhà Lý và cả Trung Từ bị giết.

Cháu gọi Trung Từ bằng cậu là Trần Tự Khánh ở Hải Ấp lại mang quân về kinh, an táng Trung Từ.

     Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi nhân đó nói với vua Huệ Tông rằng:

    Trần Tự Khánh đem binh về kinh sư là muốn mưu đồ việc phế lập. Huệ Tông tin theo, nổi giận, bèn hạ chiếu cho các đạo binh đánh Trần Tự Khánh và giáng Nguyên phi Trần thị Dung xuống làm Ngự nữ. Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi đem binh về kinh sư. Huệ Tông hạ chiếu tấn phong tước hầu cho Đoàn Thượng. Đoàn Thượng đem quân đánh anh em họ Trần ở ải Hoàng Điểm. Trần Tự Khánh sai bộ tướng Lại Linh cùng tướng Khoái Châu là Nguyễn Đường ra chống cự. Nguyễn Đường bị bắt. Tự Khánh bị thua, giận dữ phá đê cho nước sông chảy tràn vào các ấp rồi về. Miền Khoái Châu mất tin tưởng ở họ Trần, theo về với họ Đoàn. Tuy nhiên, Trần Tự Khánh là một tướng tài. Sau đó Tự Khánh hai lần đánh bại quân họ Đoàn của Đoàn Ma Lôi, đóng ở Đội Sơn (Duy Tiên, Hà Nam). Họ Trần kiểm soát được cả miền Lý Nhân (Hà Nam). Trần Tự Khánh tìm cách liên kết với hào trưởng Nguyễn Tự để đối địch với Đoàn Thượng.

    Năm 1213, Đoàn Thượng phối hợp với quân triều đình đụng độ với Trần Tự Khánh. Tuy nhiên, lực lượng họ Trần mạnh hơn, có nhiều tướng giỏi hơn; trong khi đó quân nhà Lý do vua Huệ Tông và thái sư Đàm Dĩ Mông không có tài làm tướng chỉ huy nhanh chóng bị thua trận. Cánh quân Đoàn Thượng cử đi do Đoàn Cấm và Vũ Hốt chỉ huy bị bộ tướng của Tự Khánh là Nguyễn Nộn đánh bại. Lý Huệ Tông bỏ chạy lên Lạng châu, quân họ Đoàn rút khỏi kinh đô trở về vùng Hồng.

   Năm 1214, anh em họ Đoàn tấn công đất Bắc Giang do tướng của Tự Khánh là Nguyễn Nộn đóng giữ. Hai bên đánh nhau ở núi Đông Cứu (Gia Lương, Bắc Ninh), Nguyễn Nộn giết chết được Đoàn Nguyễn. Tuy nhiên lúc đó nội bộ phe Tự Khánh xảy ra phản loạn lớn. Tướng ở Cam Giá (thị xã Sơn Tây) là Đỗ Bị lại nổi lên chống cự. Miền Cam Giá lại tách khỏi phạm vi thế lực của anh em họ Trần, hình thành một thế lực mới. Cùng lúc đó, Nguyễn Nộn ở Bắc Giang sau khi đánh được họ Đoàn cũng phản lại Tự Khánh, xây dựng một thế lực rất lớn. Do việc cát cứ của Đỗ Bị, Nguyễn Nộn, kinh thành Thăng Long bị uy hiếp. Tự Khánh phóng hỏa đốt kinh đô rồi chạy về Lý Nhân (Hà Nam).

Song lực lượng họ Trần vẫn rất mạnh. Sau hàng loạt biến cố khác, thế lực của Trần Tự Khánh ngày càng mạnh hơn, buộc vua Huệ Tông phải dựa vào họ Trần. Nhiều thế lực cát cứ lần lượt bị Trần Tự Khánh đánh dẹp. Tuy nhiên, bộ tướng của Khánh là Nguyễn Nộn lại phản họ Trần mà cát cứ ở Bắc Giang.

     Tháng 6 năm 1217, Đoàn Thượng thấy thế lực họ Trần mạnh, tạm quy hàng triều đình, được phong tước vương và vẫn giữ vùng Hồng châu.

     Sau khi Trần Tự Khánh chết (1223), em họ là Trần Thủ Độ lên thay, tiếp tục thao túng nhà Lý. Thủ Độ sắp đặt đưa cháu là Trần Cảnh (con Trần Thừa) lên thay ngôi nhà Lý, lập ra nhà Trần.

    Trần Thủ Độ mang quân đánh Đoàn Thượng nhưng không thắng, đành phải hứa hẹn phong tước cho ông. Thủ Độ định ngày hội họp, làm lễ minh thệ, nhưng Đoàn Thượng không đến họp.

     Năm 1228, Đoàn Thượng bị sứ quân Nguyễn Nộn đánh bại và bị giết chết. Năm đó ông 45 tuổi. Con ông là Đoàn Văn đem gia thuộc đến hàng Nguyễn Nộn. Tuy nhiên chỉ 1 năm sau, Nộn cũng ốm chết. Cả nước thống nhất về tay nhà Trần.

Danh tướng Đoàn Thượng có 2 người em trai là Đoàn Hòa và Đoàn Đại đều có công lớn trong việc giúp anh cai quản đất Hồng Châu trong nhiều năm, nên sau khi mất được nhiều nơi thờ là Thành Hoàng.

     Huyện Gia Lộc, nơi quê hương dòng họ Đoàn Thượng, ngày xưa có tổng Đoàn Bái, ngày nay có xã Đoàn Thượng là địa bàn được chính quyền và nhân dân đặt tên để ghi nhớ công lao của họ Đoàn và danh tướng Đoàn Thượng đối với vùng Hồng Châu trước đây và Hải Dương ngày nay.

      Đoàn Văn - con trai tướng Đoàn Thượng - sau khi cha mất đã đưa gia đình vào làng Đồng Đội, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoá (nay là xã Tân Dân, huyện Tĩnh Gia) xây dựng đền thờ Đông hải Đại Vương Đoàn Thượng ở chân núi Ngọc (đền này sau bị giặc Minh phá để lập căn cứ chống Lê Lợi).

      Đoàn Văn có 2 người con trai là Đoàn Cao Sơn và Đoàn Trang Tùng. Đoàn Cao Sơn định cư ở Thanh Hoá sinh ra các thế hệ họ Đoàn trên đất Thanh Hoá rồi tiếp tục chuyển cư vào các tỉnh phía Nam.. Đời sau cụ Đoàn Cao Sơn ở Thanh Hoá đông nhất hiện nay là ở vùng Quảng Xương và Tĩnh Gia. vào thời nhà Hồ có tướng Đoàn Phát, chức Hàn lâm thị giảng, sau giúp Lê Lợi chống quân Minh thắng lợi. Đoàn Trang Tùng chuyển cư ra Hội Xuyên, huyện Gia Lộc, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương, phát triển dòng họ ở vùng đất này

         Năm 1279, quân Mông diệt được Nam Tống. Từ năm 1260, vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt đã lập ra nhà Nguyên. Để lấy cớ đánh Đại Việt, nhà Nguyên cho Toa Đô mượn đường đánh Chiêm Thành (Champa). Sau nhiều hoạt động ngoại giao hòa hoãn bất thành, cuối cùng chiến tranh bùng phát. Cuối năm 1284, nhà Nguyên liền phái hoàng tử Thoát Hoan và tướng Toa Đô mang quân đánh hai đường nam, bắc kẹp lại để chiếm Đại Việt. Thoát Hoan đi từ Quảng Tây còn Toa Đô đi đường biển từ cảng Quảng Châu, trước hết đánh vào Chiêm Thành rồi đánh "gọng kìm" thốc lên từ phía nam Đại Việt.

      Đây là lần xâm lược Đại Việt với quy mô lớn nhất của nhà Nguyên (huy động hơn 50 vạn quân) và cũng là cuộc kháng chiến gian khổ nhất của nhà Trần chống phương Bắc, quyết định sự tồn vong của Đại Việt lúc đó.

     Sau nhiều đợt rút lui để tránh thế mạnh của các đạo quân Mông, dùng chiến thuật vườn không nhà trống để quân địch không có lương ăn và bị bệnh dịch do không hợp thủy thổ bản địa, nhà Trần tổ chức phản công vào cuối xuân, đầu hè năm 1285. Với những chiến thắng ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, quân Trần đại thắng, bắt giết được Toa Đô. Thoát Hoan thu tàn quân chạy về bắc.

    Thắng lợi năm 1285 cơ bản xác định sự tồn tại của Đại Việt và củng cố lòng tin của người Việt có thể đương đầu được với đạo quân hùng mạnh của Mông Nguyên liền kề phía bắc. Bởi vậy trong lần kháng chiến thứ 3 chống Mông Nguyên năm 1287, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nói với vua Trần: "...Quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì sợ phải đi xa... Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn". Nhà Trần tiếp tục chủ động áp dụng chiến thuật tránh thế mạnh, triệt lương thảo. Cuối cùng quân Trần đại phá quân Nguyên ở sông Bạch Đằng tháng 4 năm 1288, bắt sống Nguyên soái Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc. Thoát Hoan một lần nữa chạy trốn về bắc.

     Sau thất bại lần thứ ba ở Đại Việt, nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt vẫn chưa muốn đình chiến. Sang các năm sau, vua Nguyên tiếp tục muốn điều binh sang nhưng chưa gặp thời cơ thuận tiện. Tới năm 1294 lại định điều binh lần nữa thì chính Hốt Tất Liệt băng hà. Cháu nội là Nguyên Thành Tông lên ngôi không muốn gây chiến với Đại Việt nữa. Việc chiến tranh với nhà Nguyên từ đó mới chấm dứt

     Theo đánh giá của các sử gia, việc nhà Trần lên thay nhà Lý vào đầu thế kỷ 13 là cần thiết và kịp thời cho sự phục hưng nước Đại Việt bị suy yếu nghiêm trọng cuối thời nhà Lý. Nếu không có sự xuất hiện của nhà Trần, nước Đại Việt sẽ khó tồn tại trong cảnh cát cứ (Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng) bên trong và họa Mông - Nguyên bên ngoài như các nước Đại Lý, Nam Tống láng giềng. Nguyên nhân cơ bản nhất cho những thành công của nhà Trần là chính sách đoàn kết nội bộ của những người lãnh đạo. Dù trong hoàng tộc nhà Trần có những người phản bội theo nhà Nguyên nhưng nước Đại Việt không bị mất, nhờ sự ủng hộ của đông đảo dân chúng

     Đời thứ 3( tính từ cụ Đoàn Trang Tùng) có tướng Đoàn Nhữ Hài cũng là một người học rộng, tài cao. Năm 20 tuổi khi còn là học sinh, Ngài đã được phong là Ngự Sử trung tán sau khi viết thành công bài biểu tạ lỗi của vua Trần Anh Tông đối với thượng hoàng Trần Nhân Tông. Ngài đã giữ các chức vụ: Tham tri chính sự, Sứ thần, Hành khiển, Kinh lược Nghệ An, Đốc tướng chỉ huy toàn quân cùng vua Trần thân chinh đi dẹp giặc ở miền Tây Nghệ An, Ngài tử trận năm 1335.

     Vào thời kỳ đầu Lê Thánh Tông trị vì Đại Việt, vương quốc Chăm Pa thỉnh thoảng đưa quân ra cướp phá châu Hóa và đỉnh điểm là vua Chăm có những biểu hiện cấu kết với nhà Minh định trong đánh ra, ngoài đánh vào Đại Việt. Trà Toàn là vua Chăm lúc đó cướp ngôi không danh chính và có những thái độ khinh thường và nhục mạ triều đình Đại Việt, nhục mạ sứ thần Đại Việt và cười cợt, cho rằng "Mặt Trời" Đại Việt có ý định làm lu mờ "Mặt Trời" Trung Hoa.

      Năm 1470, Lê Thánh Tông đã quyết định chinh phạt, sát nhập lãnh thổ Chăm Pa vào Đại Việt. Ông bá cáo với dân chúng trong nước biết một cách công khai và rõ ràng về lý do xuất quân, bằng chiếu thư đánh Chiêm. Ông thân chinh cầm 200.000 quân tiến vào đất Chăm Pa.

      Tháng Ba 1471, kinh đô Chà Bàn (Vijaya) của người Chăm thất thủ. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, hơn 30.000 người Chăm bị bắt, trong đó có vua Trà Toàn. 40.000 lính Chăm Pa đã tử trận.

    Sau chiến thắng, Lê Thánh Tông thực hiện chính sách mới, bình định và Việt hóa dân chúng người Chăm và sát nhập lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) vào Đại Việt. Tháng 6 năm 1471, lãnh thổ miền bắc Chăm Pa được lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa.

    Thời kỳ này có ông Đoàn Công Huyền, mà ông Tiên là ông Đoàn Công Nhạn nguyên người ở tỉnh Hải Dương, phủ thừa tuyên Hạ Hồng, Huyện Gia Phước xã Khuôn Phụ.

    Trong năm Lê Hồng Đức, có sắc lệnh trưng binh, ông mang vợ con theo phò vua Lê Thánh Tông, đi đánh giặc Chiêm thành có công bắt được tướng Chiêm thành là Trà Toản, đến sau khi vua đánh giặc đâu đó đã xong, bèn hạ chiếu cho tướng sĩ ban sự hồi trào, còn ông Đoàn Công Huyền tấu cùng vua Lê xin ở lại tỉnh Quảng Nam, Lúc bấy giờ ông Đoàn Công Huyền và ông Tiên quy dân lập ấp, khai khẩn ruộng đất thành lập xã hiệu lúc bấy giờ gọi là Quảng Nam Xứ, đến sau Đức Tiên chúa vào chấn đất huyện hóa và Quảng Nam đóng đồn trú quân ở xã Ái Tử, lúc bấy giờ năm Dương lịch 1569, tiên tổ Đoàn Công Nhạn nối theo đó mà phò Đức chúa Tiên cùng chấn có công. Đức chúa Tiên tấu phong ông Đoàn Công Nhạn là Tham Tướng chơn Nguyên Hầu kế sao đó có sắc lệnh ông Đoàn Công Nhạn kiêm chức các Châu thuộc Quảng Nam trấn đến phủ Thăng Ba cũ các huyện trong trấn. Lúc bấy giờ dân chúng đâu đó đều vào theo ông làm hầu hạ và thuộc quyền kiểm soát của ông.

     Đến sau ông tham tướng Đoàn Công Nhạn thiết lập một thôn ở chợ củi là Đông Yên châu Đông Giáp để người con trưởng là ông Khâm Lý trấn ở đó . Đến sau tham tướng Đoàn Công Nhạn có sinh một người con gái út Bà là Đoàn Thị Ngọc tuổi vừa cập kê ước độ 20 tuổi . Nhân lúc ban đêm sáng trăng bà đi hái dâu cho tằm, trong lúc hái dâu bà có hát một câu hát ( vua cha đi ngự thuyền rồng hay đâu phận thiếp giá chồng này chăng ), trong lúc đó có xa giá vua đến Quảng Nam có thái tử Đức chúa Thượng tức vua Hiếu Chiêu Vương theo hộ giá Thái tử cũng thừa đêm sang trăng ấy, thái tử kêu một chiếc ghe bơi ngang qua gò dâu ấy, trong lúc thái tử đang câu cá bỗng nghe có người đàn bà hát một câu hát lạ, Thái tử bèn sai người đến gò dâu ấy coi thử người nào hát, người ấy trở về tâu với Thái Tử là bà ấy là con gái quan Tham Tướng quân Chơn Nguyên hầu . Thái tử xem tướng bà là người có phước lớn ( Bà có đức gì mà bà đi đâu, chỗ thân bà có bóng mát che bà đó. Sau Thái tử về tâu với vua cha xin phong cho bà làm vợ Thái tử ( tức là Hiếu Chiêu Vương hoàng hậu, đến sau bà vào cung, bà tấu lên vua cha cho phép bà trở về nguyên quán, thưa ông nội và cha mẹ cho bà về làng, đến sau Bà sinh Đức chúa Hiền là vua Hiếu Triết Vương. Vua Triết Vương phong cho ông ngoại tước Đạt Tấn phụ giới thượng tứng quân cấm y vệ đô chỉ huy sứ ty, chỉ huy sứ chưởng vệ sự thạch quận công và phong em ông ngoại là Đoàn Công Tốn tước cai xã vệ thắng bá hầu.

     Ông cai xã Đoàn Công Tấn có sinh 10 người con trai . Ông thứ nhất Đoàn Công An lập xã ở Tân an , ông thứ 3 Đoàn Công Kiều lập xã ở An Lâm, ông thứ 6 Đoàn Công Tá lập xã ở Ngọc Sa , ông thứ 7 Đoàn Công Triều lập xã ở Mông lãnh, ông thứ 8 thứ đội trưởng lương minh bá Đoàn Công Viên về lập xã ở Xuân Phú , đến sau cháu 7 đời Đoàn Công Trường lập xã ở Hòa Xuân thuộc quận Đại Lộc . Còn ông Thỉ và ông Tiên đều ở lại bổn châu. Theo ở tiên tộc Đoàn  thì ông Thỉ và ông Tiên  ở trên có huân lao với nước, ở dưới có công đức với dân , nguyên đầu sự tích của ông Thỉ và ông Tiên như vậy.

     Bà Đoàn Thị Ngọc sinh năm 1601, là con gái thứ ba của Thạch Quận công Đoàn Công Nhạn, mẹ là phu nhân Võ Thị Ngọc Thành. Đoàn Thị Ngọc vốn là người gốc ở đàng Ngoài (từ thế kỷ XVII đến XVIII, đất nước ta bị chia làm hai: đàng Ngoài và đàng Trong sau cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn).

     Năm 1615, lúc ấy bà là một thôn nữ hiền thục, chăm làm. Có lần, vào một đêm trời trong, trăng sáng vằng vặc, thôn nữ họ Đoàn vừa hái dâu bên bãi vừa hát. Lúc đó, công tử Nguyễn Phước Lan cùng cha là chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên (là Thái tử trấn thủ dinh Quảng Nam) du ngoạn trên sông Thu Bồn gần gành Điện Châu (An Phú Tây ngày nay). Nghe tiếng hát trong trẻo, thanh tao của một thôn nữ, công tử Nguyễn Phước Lan cho người hỏi tìm rồi sau đó hai người cùng kết duyên vào năm 1617. Từ đó, Đoàn Thị Ngọc chuyển về sống tại dinh trấn Thanh Chiêm. Tại đây, bà được nhân dân biết đến với tên gọi là Đoàn Quý phi.

     Năm 1635, chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên qua đời, Thái tử Nguyễn Phước Lan trở thành chúa thượng, bà Đoàn Thị Ngọc trở thành Vương phi và thân phụ bà được phong tước Thạch Quận công. Bấy giờ, chúa Nguyễn Phước Lan dời phủ chúa từ làng Phước Yên (nay thuộc huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) về làng Kim Long ở Phú Xuân.

     Sinh thời, bà Đoàn Quý phi là người minh mẫn thông sáng. Bà có Thái tử là Nguyễn Phước Tần sau trở thành vị chúa hiền. Thời gian sống ở Quảng Nam, bà được nhân dân hết mực yêu mến, quý trọng. Bà là người có công khuyến khích, ủng hộ nhân dân các phủ Điện Bàn, Thăng Hoa phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa. Nhờ vậy mà nghề này có điều kiện mở mang ở đàng Trong. Bấy giờ, nhiều mặt hàng tơ lụa nổi tiếng như đoạn, lãnh, gấm, vóc, trừu, sa được mua bán trong nước và cả với nước ngoài qua cảng Hội An (ở Quảng Nam). Qua đó góp phần làm giàu và quảng bá mặt hàng thủ công nổi tiếng này.Vào cuối đời, bà rời phủ chúa Kim Long (Thừa Thiên - Huế) trở về sống ở dinh trấn Thanh Chiêm cùng với con cháu trên quê hương của mình.

      Bà mất ngày 17-5 năm Tân Sửu (tức ngày 12-7-1661). Bà được an táng tại quê nhà Chiêm Sơn (Quảng Nam).

Năm 1744, võ vương Nguyễn Phước Khoát đã truy dâng bà là Trinh Thục Từ Tĩnh Huệ phi, về sau thêm hai chữ Mẫn Duệ thành Trinh Thục Từ Tĩnh Huệ phi Mẫn Duệ.

       Năm 1806, vua Gia Long truy tôn bà là Hoàng hậu với vương tước: “Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Kính Hiếu Chiêu Hoàng hậu” và khắc tên lên kim sách (sách bằng vàng) của hoàng tộc và tôn hiệu này được thờ phụng với Hiếu Chiêu Hoàng đế (chúa thượng Nguyễn Phước Lan) ở Thái Miếu (Huế).

Thời mới lập cơ đồ, chúa Nguyễn còn yếu thế, phải dựa vào một thổ hào giàu có, thế lực để nương tựa. Đoàn Công Nhạn, cha của nàng là vị thổ hào ấy và vì thế, cô hái dâu đã một bước thành quý phi khi chúa thay cha nối chức lãnh đạo tối cao. Phước Tần bậc anh hùng hào kiệt, khi còn trấn thủ Quảng Nam đã đánh tan hạm đội Hòa Lan trên bể Đông, đã đặt nền móng cho việc khai thác Nam Bộ và khi giữ địa vị nguyên thủ đàng Trong đã có công giao kết với chúa Trịnh chấm dứt chiến tranh Nam Bắc.

Với đức độ, tài năng và cống hiến của bà Đoàn Quí phi cho quê hương đất nước, bà được nhân dân yêu quí, tôn thờ gọi là bà Chúa Tằm Tang.

      Cuộc đời của cô gái trồng dâu nuôi tằm dệt lụa ở làng Chiêm Sơn, huyện Diên Phước thuộc dinh Quảng Nam bên bờ sông Thu Bồn có một giai thoại đẹp đẽ đi vào sử sách và truyền thuyết dân gian địa phương. “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên” đã viết rằng: “Năm mười lăm tuổi (Bà) hái dâu bên bãi trông trăng mà hát. Bấy giờ Hy Tông Hoàng Đế ta (tức Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên) đi chơi Quảng Nam, Thần Tông Hoàng Đế ta (tức Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) theo đi hộ giá. Đêm đáp thuyền trăng đi chơi. Đỗ thuyền ở Điện Châu (bây giờ là An Phú Tây) câu cá, nghe tiếng hát lấy làm lạ, sai người đến hỏi biết là con gái họ Đoàn, cho tiến vào hầu Chúa ở tiềm để, được yêu chiều lắm”.

      Theo truyền thuyết dân gian, vào một đêm trăng đẹp (1615), Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên lúc đó đang trấn giữ Quảng Nam dinh và con trai là Công Tử Nguyễn Phúc Lan dạo thuyền trên sông Thu Bồn. Khi thuyền rồng ngược dòng sông từ Thanh Chiêm đến địa phận làng Chiêm Sơn, thuộc huyện Diên Phước, nổi tiếng trồng dâu nuôi tằm dệt lụa thì một giọng hát trong ngần và quyến rũ của một thôn nữ từ một nương dâu bên bờ sông vọng tới theo làn gió mát. Cô gái hát rằng:

 Thiếp nghe chúa ngự thuyền rồng

Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa...

 Một lát sau cũng giọng hát đó lại cất lên uyển chuyển, mượt mà nghe da diết làm sao:

 Thuyền rồng Chúa ngự nơi đâu

 Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình...!

      Giọng hát và lời ca của cô thôn nữ trong đêm trăng thanh vắng đã làm rung động tâm hồn và xao xuyến trái tim của chàng công tử đa cảm Nguyễn Phúc Lan. Được phép thân phụ, công tử cho thuyền rồng men theo triền sông đi tìm tiếng hát. Khi lên bờ, bên bóng dâu xanh thắm nhuộm ánh trăng vàng, chàng trai vương bá đem lòng say mê vẻ đẹp yêu kiều của một thục nữ vừa độ trăng tròn rất mực đôn hậu là Đoàn Thị Ngọc Phi, con gái út của một hào trưởng nổi tiếng, chuyên làm nghề tằm tang, quê ở làng Chiêm Sơn, huyện Diên Phước là Đoàn Công Nhạn. Hình như cuộc kỳ ngộ này đã được sắp xếp từ trước bởi bàn tay của Ông Tơ Bà Nguyệt se duyên. 

     "Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên" đã viết về người thục nữ đó rằng “Bà là con gái thứ ba của Thạch Quận Công Đoàn Nhạn. Mẹ là phu nhân Võ Thị. Bà là người minh mẫn thông
sáng… sáng thơm, tý mỵ, phép tốt trinh thuần”.

 Công Tử Nguyễn Phúc Lan và cô thôn nữ Đoàn Thị Ngọc Phi đã bén duyên vào tuổi mười lăm (1615) và sau đó hai năm, họ cùng nhau kết duyên trăm năm vào tuổi mười bảy (1617) và đã sống với nhau ở dinh trấn Thanh Chiêm cùng với thân phụ là Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên và thân mẫu là phu nhân Nguyễn Thị Giai (tức là Mạc Thị Giai được mang họ Chúa Nguyễn).

     Sau khi Nhân Lộc Hầu Nguyễn Phúc Lan trở thành Quận Công trấn giữ Quảng Nam Dinh, Bà Đoàn Thị Ngọc Phi đã hết lòng ủng hộ, khuyến khích nhân dân các phủ Điện Bàn, Thăng Hoa phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, nhờ vậy mà nghề tầm tang ở đàng Trong được mở mang, đã mở mang vào thời kỳ đó và đã sản xuất được nhiều mặt hàng tơ lụa nổi tiếng như đoạn, lãnh, gấm, vóc, trườu, sa để bán trong nội địa và xuất khẩu ra nước ngoài qua thương cảng Hội An. Bởi vậy, Lê Quý Đôn đã viết trong "Phủ Biên Tạp Lục" rằng “Người Phủ Thăng, Phủ Điện dệt được các loại the, đoạn, lụa, là hoa hòe chẳng kém gì Quảng Đông”.

     Cũng từ đó, cảng thị Hội An dưới thời Chúa Nguyễn đã trở thành một trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa quốc tế xuyên đại dương trong thế kỷ XVI - XVII nối liền Tây Âu và Viễn Đông. Và bà Đoàn Thị Ngọc Phi trở thành "Bà Chúa Tầm Tang" ở đàng Trong. Các cô gái trồng dâu nuôi tằm dệt lụa ở quê hương Bà đã từng hát:

 Chiêm Sơn là, lụa mỹ miều

Mai vang tiếng cửi, chiều chiều tơ giăng...

 và
Nương dâu xanh thắm quê mình

Nắng lên Gò Nổi đượm tình thiết tha

Con tằm kéo kén cho ta

Tháng ngày cần mẫn làm ra lụa đời...


    Đến năm 1635, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên qua đời, Nhân Lộc Hầu Nguyễn Phúc Lan trở thành Chúa Thượng và sống ở Thuận Hóa. Chúa thượng đã dời Phủ Chúa từ làng Phước Yên ở huyện Quảng Điền về làng Kim Long thuộc Phú Xuân. Bà Đoàn Thị Ngọc Phi được Chúa Thượng phong tước là Đoàn Quý Phi và thân phụ Đoàn Công Nhạn của bà được phong tước là Thạch Quận Công. Đoàn Quý Phi trong thời kỳ này cũng khuyến khích nghề tầm tang ở Phú Xuân phát triển.

 Đoàn Quý Phi sinh hạ được ba hoàng tử, trong đó các hoàng tử Nguyễn Phúc Võ và Nguyễn Phúc Quỳnh đều mất sớm, hoàng tử Nguyễn Phúc Tần là con trai thứ hai, trở thành thế tử. Công chúa út là Nguyễn Phúc Ngọc Dung.

      Thế tử Nguyễn Phúc Tần ngay thời còn là Lễ Dũng Hầu, quan quản lảnh Quảng Nam dinh, đã tỏ ra là một con người am hiểu binh pháp, vũ dũng và giỏi chiến trận, đã có công lớn trong việc đánh tan hạm đội Hà Lan dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Peter Back âm mưu đánh phá cảng thị Hội An vào năm 1644. Về sau Thế Tử Nguyễn Phúc Tần trở thành Chúa Hiền năm(1648 – 1687) .

     Đoàn Quý Phi mất ngày 17 tháng 5 năm Tân Sửu, tức ngày 12 tháng 7 năm 1661, hưởng thọ 60 tuổi. Sau khi Bà qua đời, Chúa Hiền đã đưa mẫu hậu về an táng tại quê hương Bà. Lăng mộ của Bà đặt bên cạnh lăng mộ của nhạc mẫu là Hoàng hậu Nguyễn Thị Giai.

      Theo "Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên" Đoàn Quý Phi mất năm Tân Sửu (1661 Lê Vĩnh Thọ thứ tư) mùa hạ tháng 5, táng Vĩnh Diện (ở Thượng Cốc, Hùng Cương thuộc xã Chiêm Sơn, tỉnh Quảng Nam).

      Trong "Đại Nam Nhất Thống Chí" quyển 5 viết về Quảng Nam, đã ghi lại vị trí tọa lạc của các Lăng mộ của hai Hoàng Hậu Nguyễn Thị Giai và Đoàn Thị Ngọc Phi như sau: “Lăng Vĩnh Diễn phía Nam núi Hàm Long, xã Chiêm Sơn, huyện Duy Xuyên. Đây là Lăng của Hiếu Văn Hoàng Hậu Nguyễn Thị. Lăng Vĩnh Diện ở phía Tây Gò Hùng, thôn Thượng Cốc, xã Chiêm Sơn. Đây là lăng của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi”.

       Ngược dòng lịch sử, hãy đi tìm dấu tích cổ xưa của nơi an nghỉ cuối cùng của hai Hoàng Hậu đó. Đến nay, tại làng Chiêm Sơn thuộc xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam vẫn còn di tích của hai lăng mộ đó với mức độ hư hại khác nhau.

       Lăng Vĩnh Diện, mộ phần của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi (1601-1661) mà nhân dân địa phương quen gọi là Lăng Trên, tọa lạc trên một khu đất cao, gọi là Gò Hùng thuộc làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh, tỉnh Quảng Nam ngày nay. Lăng được xây dựng vào năm 1661 và toàn bộ khu vực Lăng rộng 4 sào 2 thước 7 tấc, ứng với lô đất số hiệu 2583 theo địa bộ xã Duy Trinh. Lăng này được đặt tên là Vĩnh Diện vào năm Gia Long thứ 5 (1806) và được tu bổ vào năm Gia Long thứ 13 (1814).

       Trong địa phận Lăng Trên còn có mộ của công chúa út của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu. Theo hồi cố của bà con tộc Đoàn xã Duy Trinh, công chúa này có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng thường được gọi là công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Dung, có dị tật bẩm sinh. Lúc sinh thời, công chúa đã hạ giá với Chưởng Cơ của triều đình tên là Minh và đã mất sớm.

       Phần mộ của công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Dung không rộng lắm và ứng với lô đất số hiệu 698 của địa bộ xã Duy Trinh .

Lăng Vịnh Diện được bao bọc bởi hai lớp thành bảo vệ cao khoảng 1 mét, dày khoảng 0,8 mét: bên ngoài là bảo thành ngoại và bên trong là bảo hành nội, phía sau ở chính giữa các thành này đều có bia tẩm. Trên các bia tẩm này không thấy ghi một chữ Hán nào mà chỉ có phù điêu hình mây cuộn, kỳ lân trông rất ngoạn mục. Các thành bảo vệ đều bị hư hại nặng, chỉ còn vài đoạn ngắn nhưng cái bia tẩm vẫn còn. Ở giữa Lăng là mộ chí của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu mà đến nay vẫn còn nguyên vẹn theo kiểu kiến trúc cổ xưa.

       Còn lăng Vĩnh Diễn là mộ phần của Hiếu Văn Hoàng Hậu Nguyễn Thị Giai (1578-1630) được nhân dân địa phương gọi là Lăng Dưới, cũng tọa lạc trên một khu đất cao gọi là Gò Hàm Rồng cũng thuộc làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh, cách Lăng Vĩnh Diện, Lăng Trên hơn nửa cây số. Khu vực Lăng này, ngày xưa rộng gấp đôi Lăng Trên, có diện tích 8 mẫu 4 sào 5 tấc, ứng với lô đất số hiệu 1220 theo địa bộ xã Duy Trinh. Niên đại xây dựng Lăng này có lẽ vào cuối năm 1630, vì Hoàng Hậu mất vào ngày mồng 9 tháng 11 năm Canh Ngọ, tức ngày 12-12-1630 tại dinh trấn Thanh Chiêm.

      Theo "Đại Nam Nhất Thống Chí" thì lăng Vĩnh Diễn cũng được đặt tên vào năm 1806 và tu bổ vào năm 1814 cùng một lúc với Lăng Vinh Diện.

      Trước đây, bên ngoài khu vực của hai Lăng, Chúa Nguyễn còn xây dựng một công trình kiến trúc gọi là Chùa Vua là nơi thờ phụng hai Hoàng Hậu nói trên có vườn cây bao quanh gọi là Vườn Chùa mà nay không còn nữa. Ở đây, trước kia luôn luôn có Đội Cận Vệ

       Hoàng Gia, gồm khoảng hai mươi người, thường là con cháu họ Đoàn, có nhiệm vụ bảo vệ các khu Lăng và lo việc thờ cúng.

Diện tích Vườn Chùa khá rộng, đất bên trong thành bao bọc chùa rộng 3 sào 0 thước 9 tấc, đất bên ngoài thành là vườn trồng hoa cảnh, cây ăn trái rộng 5 sào 4 thước 4 tấc ứng với lô đất số hiệu 2281 theo địa bộ xã Duy Trinh.

      Ngoài ra, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan còn cấp thêm tư điền làm hương hỏa cho hai Hoàng Hậu họ Mạc và họ Đoàn ở địa phương để con cháu chăm lo hương khói cho hai bà Tư Điền mà Chúa Nguyễn đã cấp trước đây cho Hoàng Hậu Nguyễn Thị Giai là 4 mẫu 8 sào 12 thước thuộc làng Kiệu Đông và làng Kiệu Tây, huyện Duy Xuyên và 2 mẫu thuộc làng Hương Quế huyện Quế Sơn. Tư Điền mà Chúa
Nguyễn đã cấp trước đây cho Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi là 4 mẫu 3 sào 12 thước thuộc làng Phú Trang, huyện Quế Sơn.

     Theo “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên", đến năm 1744, Thế Tôn Hiên Võ Hoàng Đế, tức Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã truy dâng Bà Đoàn Quý Phi là Trinh Thục Từ Tỉnh Huệ Phi và sau đó thêm hai chữ Mẫu Duệ. Vua Gia Long, sau khi thống nhất đất nước và lên ngôi, năm 1806 lại truy tôn Bà Là Trinh Thục Từ Tỉnh Mẫu Duệ Kính Hiếu Chiêu Hoàng Hậu và khắc tên lên Kim Sách của Hoàng Tộc và tôn hiệu này được thờ chung với Hiếu Chiêu Hoàng Đế (tức Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) vào gian thứ nhất bên phải của Thái Miếu ở Huế.

        Để tỏ lòng tường niệm công đức của bà Chúa Tầm Tang, vua Thành Thái (1888-1907) năm thứ 18 (1905) đã ban cho tộc Đoàn 1.000 lạng bạc để dựng Nhà Thờ Hiếu Chiêu Hoàng Hậu tại thôn Đông Khuông, xã Điện Châu, tức Đông Yên Châu, huyện Điện Bàn. Về sau, sông Thu Bồn chuyển di cắt Đông Yến Châu làm đôi thành Đông Yên Đông thuộc huyện Điện Bàn và Đông Yên Tây thuộc huyện Duy Xuyên.

 Hiện nay, nhà thờ Hiếu Chiêu Hoàng Hậu nằm trên đất Đông Yên Đông, nay là xã Điện Phương, cách Cầu Mống về phía Bắc bên phải chừng 100 mét. Hàng năm vào ngày 17-5 Âm lịch tộc Đoàn kết hợp với tộc Nguyễn Phước tổ chức kỵ giỗ bà tại đây và tại nhà thờ xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên.

 Sau tháng 8, 1945, các khu lăng mộ Vĩnh Diện và Vinh Diễn vẫn còn nguyên vẹn, nhưng không còn được bảo vệ như trước nữa và bị lãng quên. Trải qua ba mươi năm chiến tranh, nhân dân đã đào mộ tìm vàng, phá thành lăng để lấy gạch đá làm vật liệu xây dựng, biến khu Lăng thành nơi trồng cây lấy gỗ... làm biến dạng môi trường ở đây.

      Vào tháng 2-3 năm 1992, bà con tộc Đoàn xã Duy Trinh đã kết hợp với bà con Nguyễn Phước tộc Quảng Nam - Đà Nẵng đốn hạ cây cối trồng bừa bãi, thu dọn vệ sinh khu Lăng Vĩnh Diện và Lăng Vĩnh Diện, đồng thời bỏ ra kinh phí trùng tu lại mộ chí của Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi, nhưng do thiếu tài chính, các thành bảo vệ xung quanh cũng chưa phục chế lại được như cũ.

      Có lẽ công đức đối với nghề trồng dâu dệt lụa trên quê hương cũng như thiên diễm tình một thời vang dội của Bà Chúa Tầm Tang còn lưu lại cho mãi đến tận nay mà các cô gái trên quê hương bà vẫn hát:

 Thuyền rồng mái đẩy đi đâu

Để cho em đứng hái dâu một mình...!

      Chúng tôi cho rằng các Lăng Vĩnh Diện và Lăng Vĩnh Diễn là những di tích văn hóa, lịch sử cổ xưa nhất của thời Chúa Nguyễn còn tồn tại cho đến nay, có giá trị nhiều mặt về lịch sử, văn hóa, khảo cổ, kiến trúc... có tầm cỡ quốc gia với chiều dày lịch sử 400 năm cần được phục chế, trùng tu, tôn tạo toàn bộ.

 Tên đất Quảng Nam xuất hiện từ năm Hồng Đức thứ 2 (tháng 6-1471, do vua Lê Thánh Tôn đặt cho dải đất vừa chinh phục được, dài đến cuối huyện Tuy Phước - Phú Yên ngày nay). “Quảng Nam thừa tuyên” có nghĩa là “đất mở rộng về phía Nam, vâng lệnh vua để tuyên dương đức hóa”.

     Năm 1605, Nguyễn Hoàng tách vùng đất từ phía Nam đèo Hải Vân đến Bắc sông Thu Bồn (gồm các huyện Hòa Vang, Điện Bàn, Đại Lộc bây giờ) ra khỏi trấn Thuận Hóa để nhập vào trấn Quảng Nam đã có từ thời vua Lê. Đây là một quan niệm quy hoạch lãnh thổ rất hợp lý của Chúa Tiên, bởi vì đèo Hải Vân - mà Lê Thánh Tông đã hào sảng mệnh danh là “thiên hạ đệ nhất hùng quan” - là một thực thể địa lý - lịch sử kỳ lạ của đất nước.

    Gia phả họ Đoàn ở Diễn Châu – Nghệ An được ghi chép từ năm 1483 do cụ Đoàn Huệ Hải cho biết cụ thể:  khởi tổ ở đây- cụ Đoàn Bá Tuân là hậu duệ của cụ Đoàn Văn Khâm, nguyên quán ở làng Cổ Phục, huyện Kim Thành, Tỉnh Hải Dương. Cụ Đoàn Bá Tuân được vua Lê Thánh Tông giao trấn thủ Hải Dương năm 1513 do loạn lạc dưới triều Lê Tương Dực cụ bị giặc giết. Con cụ là Đoàn Bá Khởi chạy vào Nghệ An phát triển thành một chi họ khá lớn trên đất Nghệ An rồi vào đến miền Trung và Nam bộ.

    Đời thứ 5 dòng họ Đoàn Bá Tuân có cụ Đoàn Duy Tinh đã chuyển cư vào An truyền Thừa thiên thế kỷ 16 triều Nguyễn Hậu Duệ của cụ Đoàn Duy Tinh có 3 anh em là Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Hữu Trực và Đoàn Hữu Ai nổi lên chống lại Tự Đức (gọi là giặc chày vôi) nhưng bị thất bại, ba anh em họ Đoàn Hữu Trưng bị Tự Đức giết hại. Một số nhánh họ phải chạy ra Quảng Trị, Quảng Bình và chạy vào tới An Giang để tránh họa chu di.

     Chi họ vào An Giang đổi sang họ Dương, hậu huệ chi này có ông Dương Văn Minh “Tổng thống” cuối cùng của chế độ ngụy Sài Gòn. 

     Chi chạy ra Quảng Trị có hậu duệ là Đại tướng Đoàn Khuê (đã mất), dòng tộc của cụ Đoàn Duy Tinh ở Thừa Thiên Huế còn có chi họ ở làng Phú Môn, Huyện Phú Lộc, hậu duệ chi này có giáo sư Đoàn Trọng Tuyến con trai là Đoàn Mạnh Giao nay là Bộ trưởng. 

     Dòng họ cụ Đoàn Văn Khâm có nhánh họ là Đoàn Phúc Lãnh ở Tu trình – Thái Bình đã chấp nối được một số Chi chuyển cư về các địa phương thuộc đồng bằng Bắc bộ qua các triều Lý, Trần, Lê … còn nhiều nhánh khoảng trên dưới 10 đời vì không lưu giữ được gia phả nên chưa chắp nối được. 

     Như vậy từ cụ tổ Đoàn Văn Khâm, tiếp nối 10 thế hệ kể trên cùng với một số tư liêu về Đoàn tộc cho thấy Hải Dương và Thái Bình là 2 tỉnh có các cụ tổ họ Đoàn tộc về đây định cư lâu đời nhất, từ 850 đến 980 năm (khoản 38 đến 40 thế hệ con cháu). Từ 2 địa phương trên con cháu họ Đoàn đã chuyển cư sinh sống ở các tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ như : Hưng Yên, Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bìnnh, Quảng Ninh, Lạng Sơn .. về sau mới chuyển cư và miền Trung và Nam Bộ. 

     Ngoài các chi họ Đoàn đã nêu trên, mà phần nào các tư liệu chính sử và tư liệu từ gia phả các dòng họ đã bước đầu cho biết có mối liên quan huyết thống. còn một số các chi họ Đoàn khác trong cả nước ( gồm khoảng trên 50 chi họ Đoàn ở các địa phương khác nhau, đã được nêu ở phần I chương II ) chưa có điều kiện thời gian , công sức để khảo sát, tìm hiểu kỹ.

     Đến thế kỷ thứ 18, 19 và 20 cư dân họ đoàn được hình thành tuy không đông, nhưng đã có mặt ở khắp mọi vùng miền trong cả nước. Họ tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam, góp sức cùng với các dòng họ khác làm nên lịch sử hào hùng của dân tộc, một nền văn hóa đa dạng, đậm đà bản sắc. Xuất hiện nhiều nhân vật họ Đoàn nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực như chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai , nội trị, trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, y học... như danh thần Đoàn Văn Trường; Tu sĩ Đoàn Minh Huyên  – thời Gia Long ở vùng An Giang; cha con cụ Cử nhân Đoàn Huyên (con là Đoàn Triển) – người phủ Ứng Hòa – Hà Nội; Tướng Đoàn Chí Nguyện  tham gia phong trào Tây Sơn, cháu đời thứ 4  của cụ là Đoàn Chí Tuân – một Thủ lĩnh phong trào cần vương cuối TK 19 – người Quảng Bình; Nhà báo nhà thơ Đoàn Như Khuê – quê Hưng Yên; Nhà dịch giả Đoàn Tư Thuật.; liệt sĩ thời cận đại Đoàn Trần Nghiệp; Cư sĩ Đoàn Trung Còn; Nhà luật học, nhà thơ Đoàn Thêm; Nhà thơ Đoàn Văn Cừ, Liệt sĩ Đoàn Văn Bơ, Đại tướng Đoàn Khuê – Quảng Trị; Tướng Đoàn Văn Bơ (Trung tướng Nam Long) – Cao Bằng; Nhà ngôn ngữ học Đoàn Thiện Thuật, Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – Hà Nội; Nhà Văn Đoàn Giỏi – Tiền Giang,...

      Hôm nay, chúng ta đang hạnh phúc, được sống trên mảnh đất thiêng liêng hình chữ S, thống nhất từ Bắc vào Nam, với dải Trường sơn hùng vĩ và hơn 3000 km bờ biển, không thể không mang ơn những đoàn quân con Lạc, cháu Hồng đi mở cõi từ thuở ban đầu và trải qua nhiều thế kỷ, trong đó có những người con là dòng tộc họ Đoàn!

      Từ thế kỷ 5 (thời tiền Lý)  trên đất Thái Bình, cụ Đoàn Danh Tích cùng 12 dòng họ khác khai hoang lập làng An Mai – sau được các triều đại phong kiến sắc phong: “ Lương y viện dược thạch tổ lưu truyền tại miếu thụy”; cho đến nay người họ Đoàn đã có mặt trên hầu hết các vùng miền của tổ quốc: từ miền cực Bắc(Hà Giang) đến cực Nam (Hà Tiên),  từ Đông đến Tây Nam bộ( An Giang ); từ thủ đô Hà Nội tới miền  đất Hồng Châu ( với nền văn hóa xứ Đông); từ vùng văn hóa kinh Bắc đến văn hóa Thanh- Nghệ -Tĩnh, qua vùng đất Quảng bao la tới miền núi Tây Nguyên Hùng vĩ.

      Dù ở bất kỳ nơi nào, giai đoạn lịch sử nào người họ Đoàn luôn hòa nhập cộng đồng, đoàn kết cùng các dòng họ khác tham gia tích cực vào sự nghiệp dựng nước, giữ nước, xây dựng đất nước và xây dựng nền văn hóa phong phú đậm đà bản sắc Việt Nam.

      Trong cuộc đấu tranh của dân tộc, biết bao nhiêu các thế hệ anh hùng Liệt sĩ họ Đoàn và các dòng họ khác đã hy sinh Xương máu, mồ hôi, trí tuệ  để cống hiến từ thuở mang gươm đi mở cõi cho đến ngày cả dân tộc vào đồng hành trong cuộc cách mạng long trời, lở đất đưa đến thành công CM/8/45, lập nên  kỷ nguyên mới: ra đời một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – ngày nay là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

      Mọi người Việt Nam ngày nay, trong đó có dòng tộc họ Đoàn luôn tự hào về truyền thống lịch sử của dân tộc luôn phải biết  ơn, trân trọng  gìn giữ và phát huy giá trị di sản mà các thế hệ tiền nhân để lại, hãy thành kính dâng nén tâm nhang tưởng nhớ, cầu nguyện cho hương lĩnh của họ được siêu thoát về nơi cực lạc, nguyện đoàn kết cùng nhau tiếp nối truyền thống tốt đẹp về đức độ, tài năng, cống hiến mà các hệ đi trước đã truyền lại, xứng đáng là dòng giống Lạc Hồng.

BVA


Các tin khác


HỘI ĐỒNG ĐOÀN TỘC VIỆT NAM
© Copyright 2012 doantocvietnam.com, All right reserved
Designed & Powered by rehangngay.vn