CỘNG ĐỒNG HỌ ĐOÀN VIỆT NAM

Trang thông tin điện tử của hội đồng Đoàn tộc Việt Nam

www.doantocvietnam.com - hoidongdoantocvietnam@gmail.com

Liên kết website

THÔNG TIN QUẢNG BÁ

THÔNG KÊ WEBSITE

  • Số lần click: 518622
  • Lượt truy cập: 432485

XÂY DỰNG TỘC PHẢ

10:06 CH 28/12/2012

Gia tộc là họ hàng. Gia phả là sách ghi thế hệ, truyện ký, sự nghiệp của người trong một nhà, một họ.
Tại Việt Nam, Gia phả sơ giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa điểm an táng của ông cha. Theo các nhà Sử học phỏng đoán thì Gia phả đã xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ, hoặc gần hơn từ thời Lý Nam Đế (khoảng năm 476 - 545). Nhưng phải đến đời nhà Lý, nhà Trần mới xuất hiện những cuốn Tộc phả, Thế phả (ghi cả thế thứ, tông tích toàn họ), Phả ký (Ghi lại hành trạng, sự nghiệp Tổ tiên).

   Tục làm Gia phả phát triển mạnh ở hai miền Bắc và Trung, miền Nam rất ít gia đình làm Gia phả (ở đây còn gọi là “Gia phổ”) và biến thái thành “Tông chi” tức tờ “Tông chi Tông đồ”.
     Họ và tên một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã hội, xác định cá thể trong một tập thể.
     Gia phả là tài liệu quý báu cho gia đình, dòng họ và cho nhiều ngành học. Một Tông đồ, một Gia phả, một Phổ truyền dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho các nhà xã hội học, nhà Sử học về sau. Nó có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền học, y học.
   Gần đây đã có nhiều trường hợp nhờ ghi chép trong Gia phả mà xác định, tìm được người trong gia đình, dòng họ đã ly hương từ lâu mà người đó chỉ nhớ tên một vài người trong gia đình hoặc họ hàng gần.     
     Với tiến bộ của công nghệ, kỹ thuật ghi chép, sưu tầm thông tin, tra cứu tư liệu ... ngày nay việc xây dựng, tra cứu Gia phả càng thuận lợi hơn khi sử dụng các chương trình phần mềm máy tính.
     Thời gian qua Hội đồng Đoàn tộc đã nhận được một số cuốn Tộc phả ở một số địa phương, như ở Thừa Thiên - Huế, Nghệ An, Hà Tĩnh, nhưng có phần khó tra cứu vì chưa có sự thống nhất trong cách trình bày. Trong bài này chúng tôi xin gợi ý về cách xây dựng một cuốn Tộc phả, mong được sự đóng góp ý kiến của các vị.
A- Về cấu trúc của một cuốn Tộc phả:

 Phần thứ nhất

 HỆ PHẢ

     Theo lối truyền thống: Hệ phả thường lập theo kiểu “Cây Hệ phả” để chia thành các nhành chi họ và đến từng gia đình. Cách làm này dễ bị rối khi Họ có nhiều chi và các gia đình đông con cháu. Xin gợi ý cách lập bảng thống kê dưới đây mà một số chi họ đã làm khi in thành sách dễ tra cứu. Ngày nay ta có thể ghi số thứ tự theo mã số qui ước  tạo điều kiện cho việc thiết lập phần mềm máy tính để tra cứu được thuận lợi.

 

I. Cách lập bảng Hệ phả: Trước hết Hệ phả nên lập bảng theo thứ tự:

     - Theo từng đời (từ đời thứ nhất đến đời hiện tại)

     - Trong từng đời: sắp xếp theo từng Chi (từ Chi trưởng đến các chi thứ)

     - Trong từng Chi: Ghi từ con trưởng rồi lần lượt đến các con thứ (Không phân biệt nam hay nữ)    

    Bảng thống kê gồm các cột mục sau:

(Cột 1) Số thứ tự: Có nhiều cách đánh số thứ tự tùy theo ý đồ sắp xếp của người lập hệ phả. Đánh số thứ tự không chỉ đơn thuần là sự điểm danh mà còn là mã số để lập trình tra cứu khi cần thiết, như: Mã số theo Chi họ, trong Chi họ lại chia theo nhánh ...   

(Cột 2) Họ và tên: Ghi theo tên chính thức trong khai sinh, còn tên hiệu, biệt danh, ... sẽ ghi ở phần Chú thích (Cột 6). Lưu ý: Cột 2 chỉ ghi tên bên nội (con, cháu cùng họ) mà không ghi con cháu bên ngoại.

(Cột 3) Năm sinh - Năm mất (có thể ghi năm Dương lịch, hoặc năm Âm lịch. Đối với các vị Cao tổ nên ghi thêm ngày giỗ; đối với Hệ phả của từng gia đình cũng nên ghi thêm như vậy). Lưu ý: Người còn sống thì chỉ ghi: Năm sinh -  (để trống để sẽ ghi sau).  

(Cột 4) Con ông (Tên bố), vì một ông có thể có nhiều con, cũng ghi thứ tự từ con cả đến con thứ, không phân biệt nam hay nữ.

(Cột 5) Tên Chi (hoặc số thứ tự của Chi)

(Cột 6) Chú thích: Ghi tóm tắt những đặc điểm riêng của người ở Cột 2, như:

    - Tên hiệu, biệt danh, trình độ văn hóa (Học vị), chức danh (Công nhân, Nông dân, Doanh nhân, Văn nghệ sĩ, Liệt sĩ, Thương binh, Cấp bậc trong lực lượng vũ trang, trong hệ thống chính quyền, ...).

    - Địa chỉ thường trú

    - Họ và tên Vợ (Năm sinh - Năm mất) hoặc Chồng (Năm sinh - Năm mất)

 Lưu ý: Thông tin trên cần ghi tóm tắt ngắn gọn, nên thống nhất thành kí hiệu, như: CN (Công nhân), ND (Nông dân), DN (Doanh nhân), LS (Liệt sĩ), TB (Thương binh), ... để ghi được nhiều và dễ nhận biết.

 

II. Cách tra cứu bảng Hệ phả:

   1) Trước hết người muốn tra cứu cần xác định: mình thuộc đời thứ mấy trong Chi họ và thuộc Chi nào để dở trang ghi về đời đó và tìm phần thuộc Chi mình.

   2) Trong cùng thứ đời: những người xếp trên mình đều là các anh, chị và xếp dưới đều thuộc hàng em.

   3) Tương tự như trên khi tra cứu về Bố (thuộc thứ đời trên mình): người xếp trên Bố đều thuộc hàng Bác, xếp dưới thuộc hàng cô, chú.

   4) Nếu Hệ phả được lập trình máy tính cần đáp ứng yêu cầu tìm kiếm các thông tin cùng dạng, như:

       - Tìm những người cùng năm sinh.

       - Tìm những người cùng ngành nghề. 

       ....................................................

 

 Phần thứ hai

  PHẢ KÝ.

 

Nội dung Phả ký:

    1) Ghi chép về nguồn gốc, xuất xứ của gia tộc qua các tài liệu xưa (văn tự, văn bia, hoành phi, câu đối, ...) của các vị tiền bối để lại, hoặc có ghi trong các tài liệu lịch sử địa phương, lịch sử dân tộc, hay theo giã sử.

    2) Hành trạng (công việc làm trong lúc còn sống) của các vị đã quá cố nhưng có nhiều công đức với gia đình, dòng họ, xã hội:

        - Tên theo khai sinh, tên húy, hiệu (nếu có).

        - Năm sinh (Nếu biết thì nên ghi chi tiết cả ngày, giờ, năm Âm lịch và Dương lịch), năm mất và nơi an táng.

        - Học vấn (sự hiểu biết do học tập mà có).

        - Nêu tóm tắt quá trình làm việc.

        - Nêu tóm tắt những đặc điểm nổi bật về tư tưởng, đạo đức, những cống hiến tiêu biểu đối với xã hội, họ tộc, ...

      Lưu ý: Phần Hành trạng nên gắn liền với bối cảnh xã hội đương thời (nêu tóm tắt), đòi hỏi sự nghiên cứu, tìm hiểu khá công phu. Đây là tư liệu không chỉ có giá trị đối với gia tộc mà còn có ý nghĩa lịch sử xã hội sâu sắc.

    3) Liệt kê (có miêu tả và xuất xứ)) các di sản văn hóa của dòng họ, như: nhà thờ, lăng, miếu, trước tác ...

    4) Thống kê tài sản (nếu có) qua từng giai đoạn.

    5) Thống kê hoặc vẽ sơ đồ (nếu táng tại cùng địa phương làng, xã) các phần mộ của tiền nhân.

 

B- Tiến hành xây dựng Tộc phả

   1. Hội đồng gia tộc thành lập Ban biên soạn Tộc phả gồm các vị: Trưởng Chi, cao niên, những vị có khả năng biên tập, biết Hán Nôm, biết sử dụng máy tính và thành lập các tiểu ban, như: Lập Hệ phả, Viết Phả kí, Ghi hình tư liệu, ...

   2. Biên soạn Đề cương chi tiết của cuốn Tộc phả.

   3. Lập các biểu mẫu phân phát tới các nhánh, chi họ để kê khai rồi phân công tổng hợp theo từng Chi họ.

   4. Ghi hình dưới nhiều hình thức những tư liệu, hiện vật hiện còn lưu giữ trong gia đình, trong xã hội.

   5. Viết bản thảo lần thứ nhất để lấy ý kiến đóng góp của các chi họ và nếu có thể tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu Tộc phả để hoàn chỉnh.

*

      Ngay trong quá trình từng gia đình, Chi họ tham gia thống kê theo các biểu mẫu để viết Tộc phả đã có tác dụng giáo dục tìm về cội nguồn và tạo điều kiện gắn kết của mỗi thành viên trong họ, với tiêu trí:

“TOÀN HỌ ĐỒNG TÂM - PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG - ĐOÀN KẾT VỮNG BỀN .

      Tộc phả của từng nhánh họ Đoàn ở các địa phương sẽ là cơ sở để Hội đồng Đoàn tộc Việt Nam xây dựng cuốn “HỌ ĐOÀN VIỆT NAM - Những thông tin ban đầu”. Do đó chúng tôi rất mong nhận được các cuốn Tộc phả theo nội dung thống nhất như gợi ý trên đây.  

Đoàn Thịnh Thư kí Hội đồng Đoàn tộc Việt Nam


Các tin khác


HỘI ĐỒNG ĐOÀN TỘC VIỆT NAM
© Copyright 2012 doantocvietnam.com, All right reserved
Designed & Powered by rehangngay.vn